Đề tài lịch sử

Môn sử lớp 10 A bắt đầu học qua giai đoạn thế chiến 2. Trong học kỳ này, thầy thông báo sẽ có hai bài viết Research Paper chính. Bài đầu tiên, đề tài tự chọn, chủ yếu để học trò thực tập cách trích dẫn theo kiểu MLA https://owl.english.purdue.edu/owl/resource/747/01/

Vài đề tài các bạn trong lớp chọn

  • Canada và việc hợp thức hóa pornography
  • NAFTA, quan hệ Canada và Mỹ
  • Canada và công đoàn

A chọn đề tài “Cách giải quyết của Canada về vấn đề thuyền nhân Việt nam là đúng hay sai? Việc này đã có ảnh hưởng gì đến luật nhập cư nhân đạo/refugee của Canada?”

Vài tuần này, A đọc sách, đến thư viện xem tài liệu, và gọi điện thoại phỏng vấn hai bác từng là thuyền nhân đến Canada vào những năm 1979. Vì con trai chọn đề tài này nên cả nhà trao đổi với nhau nhiều hơn về những gì xảy ra ở VN sau 1975, về cờ vàng cờ đỏ, về dân Việt đến Canada bằng thuyền hay máy bay, về Cộng sản và Vô sản và Tư sản, về những điều mà mình từng nghĩ sẽ chẳng nói đến, để con tự tìm ra. A đọc Refugee và The Sympathizer của nhà văn Nguyễn Thanh Việt. Em mang hai cuốn sách đến trường và vài bạn khác tò mò, giở ra đọc, và quyết định tìm mua sách để đọc cho hết. A tự hào hơn về Canada, về lòng khoan dung và tình người mà xứ lạnh này luôn nói đến. Nhưng mình biết phần kết của bài viết 5 trang, A sẽ dẫn về hiện tại “Hình như sự đồng cảm với dân tị nạn đã vơi đi rất nhiều. Vì sao?”.

Advertisements

Viết báo cho trường

Lớp 9, A. nộp hai bài viết mẫu để tham gia nhóm làm báo của trường. Một năm, nhóm in 3 số báo, có khi 4 số. Tay bút mới có bài viết trong cả 3 số. Đề tài do chủ nhóm báo bàn bạc và chỉ định, quy định luôn số chữ, hạn giao bài để sửa nháp 1, nháp 2 và nháp cuối. Người viết tự thu thập thông tin, tiến hành phỏng vấn, xin xem văn bản, tài liệu gốc nếu cần thiết. Muốn chụp hình hay quay phim, báo với chủ nhóm để thu xếp cho bạn chuyên chụp hình thực hiện.

Số đầu tiên: Sinh viên mới vào trường cảm nhận như thế nào về trường mới và làm gì để thích nghi. Số tiếp theo: Lịch sử xây dựng của trường, di sản và những hạn chế, tương lai kiến trúc trường để đáp ứng yêu cầu mới. Số cuối cùng: Stress và đời sống sinh viên trung học. Mỗi số A. viết trong khoảng 1 tháng, viết gối đầu nhau. Mỗi lần có bản in, anh chàng rất vui. Bạn trong khóa đọc và có phản hồi tích cực nên càng làm A phấn khởi.

Lớp 10, A. tiếp tục có chân trong nhóm. Năm nay, ngoài báo giấy, nhóm có luôn trang facebook để cập nhật và in bài. Số đầu tiên A. được giao viết bài feature/chính: Bộ môn nhạc – hạn chế, thử thách và nguyện vọng sinh viên. Bản thân William Lyon McKenzie, với chương trình Toán-Tin-Khoa Học là chủ đạo nên phần lớn sinh viên trong trường là dân khối A, và tất cả hoạt động tập trung vào Toán-Tin. Dù có những hoạt động văn nghệ, thơ, văn chương, và có những bạn thật sự quan tâm đến nghệ thuật, nhưng bộ môn này, đối với rất nhiều bạn là một sự thất vọng. Giáo viên thay đổi liên tục, chương trình học phiên phiến, các nhóm chơi nhạc tự phát và tự tài trợ. So với Toán-Tin-Khoa học, Nhạc không có chỗ đứng.

A. mê nhạc, nên em đồng cảm sâu sắc với những bạn cùng đam mê và quan điểm. Nên khi họp đầu năm nội dung số báo mới, em nêu ra đề tài này. Trong khi các bạn rất ủng hộ, muốn nêu ra những nỗi niềm và thất vọng với nhà trường, dù nhóm viết báo phân vân, tổng biên tập vẫn đồng ý để A. viết. Nháp 1, chủ nhóm sau khi chỉnh sửa vài đoạn chuyển cho văn phòng xem. Đây là hành động bất ngờ vì nhưng lý do đưa ra là do đề tài nhạy cảm nên phải thêm một bước.

Sáng nay, A nhận email từ Admin/ văn phòng, đề nghị thu xếp một buổi phỏng vấn cô hiệu trưởng và chủ nhiêm bộ môn Art. A. vò đầu, lo ngại nội dung của bài viết bị hijack/ ảnh hưởng. Ba giải thích: một cơ hội rất tốt để gặp những nhân vật vai vế và nghe tiếng nói chính thức. Tập làm phóng viên, tập lắng nghe các bên, tập trình bày thông tin, tập làm quen với quá trình viết-chỉnh sửa-phát hành. Mình dặn: tỏ ra hiểu biết, trung lập và lắng nghe.

Sẽ tường thuật tiếp và hy vọng sẽ được đăng bản in lên blog của mình.

Thuyền nhân Việt nam

Một số nguồn tìm hiểu về đề tài Thuyền Nhân VN, đặc biệt riêng với Canada, tôi ghi lại đây. Nếu anh chị nào có thông tin, nhờ chỉ giúp.

MUST READ

http://www.thecanadianencyclopedia.ca/en/article/canadian-response-to-boat-people-refugee-crisis/
http://www.historymuseum.ca/cmc/exhibitions/cultur/vietnam/vilea03e.shtml
https://www.pbslearningmedia.org/collection/lastdaysinvietnam/#.WfOVzNCnFPZ
https://www.vietnam.ttu.edu/

NICE TO READ

– NGUYEN VIET THANH – THE REFUGEES
– Paul James Rutledge – The Vietnam Experience in America
– James M. Freeman – Changing Identities Vietnamese Americans 1975-1995
https://www.ft.com/content/0cd9f69a-e89e-11e6-967b-c88452263daf?mhq5j=e6
http://www.ctvnews.ca/canada/new-heritage-minute-shines-light-on-boat-people-to-highlight-inclusivity-1.3467277

https://www.theguardian.com/global/2016/mar/20/vietnamese-boat-people-survivors-families

http://www.cbc.ca/news/canada/photo-sparks-memories-vietnamese-boat-person-1.4190997

PHOTO
https://www.pinterest.ca/duocsihai/boat-people/?lp=true

MOVIE
A Moonless Night: Boat People, 40 Years Later full movie
http://en.purevid.net/11652-A-Moonless-Night-Boat-People-40-Years-Later

Compatibility

Tối qua đi họp phụ huynh môn Lập trình cho anh Hai. Điểm từ đầu năm của bạn ấy dao động từ 96-100%. Chưa kịp hoa mắt thì cô chỉ vào một con O tròn trĩnh và chữ ZERO in rõ ràng ngay bên cạnh.

Cô giải thích cô dạy kiến thức và cả cách làm việc. Thường có vài cách khác nhau để đạt cùng một kết quả. Nhưng sau này đi làm, hay làm việc trong nhóm, khi đã có hướng dẫn làm theo cách A thì các thành viên phải làm theo cách A. Nếu đó là một dự án riêng hay công ty riêng của mình thì muốn làm gì làm. Nhưng compatibility (khả năng tương thích) là một yêu cầu/kỹ năng quan trọng mà cô muốn các bạn hiểu/thực hành.

Sư phụ đầu tiên của mình khi đi làm là cô Adrienne Bonwick. Không nhớ bao nhiều lần cô quẹt chi chít, tan nát mấy báo cáo của mình chỉ vì trình bày, cách phân tích, cách in số liệu, rồi đến khi ráp với các nhóm khác thì mỗi nhóm mỗi kiểu. Có lần ở lại làm đến khuya mà muốn khóc vì một khi đã non tay, làm sai từ đầu mà chỉnh lại thì thà bắt đầu mới mà nhanh và hiệu quả hơn. Nhưng sau những lần trầy trật đó, mình học được rất nhiều.

Tối qua nói chuyện với anh Hai. Con số 0 nhẹ tâng mà nặng trịch. Học là một quá trình. Mừng là anh Hai có những người thầy, người cô tốt.

 

Con trai và con gái

GroomÚt và các bạn sẽ đóng một đoạn nhỏ trong một vở kịch kể về thời Pháp lần đầu tiên đặt chân và muốn thuộc địa hóa xứ Canada. Vua Pháp thông qua luật đưa các cô gái trẻ sang xứ này. Một cô sau đó hòa nhập và lấy anh chồng bản địa. Đám cưới diễn ra trong nhà thờ, có cha xứ làm chủ hôn. Nhóm Út có 2 chàng và 1 nàng. 2 chàng chia nhau vai 4 vai: vua – người kể chuyện, cận thần, và cha xứ. 1 cô tất nhiên vào vai cô gái. Không chàng nào chịu lãnh thêm vai anh chồng. Cả nhóm sẽ thổi bong bóng, cột vào ghế. Út mang theo một cái nón mũ nồi đen, cho bong bóng đội. Ta đa. Thế là anh chồng ra đời.

Mình hỏi tại sao chẳng ai chịu đóng vai chồng. Út nói nhận xong là chết vai, khỏi có đất sống trong trường.

Nghĩ lại ngày xưa, bạn học mình đóng kịch, múa, tập nghi thức, con trái con gái, chẳng nghi kỵ gì. Giỏi hơn hẳn đám bây giờ.

Thư của lính

Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngaỵ
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

… Trần Thiện Thanh

Mời xem vài tấm hình chụp bạn Andy qua từng công đoạn tạo một artifact thư và thiệp của một anh lính thời thế chiến thứ 1 cho môn Lịch sử.

Viết thư, in ra trên giấy trắng, tẩm vào trà, và đem… nướng ở nhiệt độ thật thấp trong 10 phút. Thành phẩm: một lá thư của lính gửi người vợ hiền, kể chuyện chiến trường, chia sẻ tâm tư, một tấm thiệp. Cả hai tác phẩm úa màu, đúng kiểu hàng cổ.

Cách thực hiện này chỉ mất khoảng 20 phút. Kỳ công hơn, đem chôn. Vài tháng sau đào lên. Chỉ có điều bài tập giao phải hoàn tất trong 1 tuần nên bạn Andy chọn cách nướng thư.

Nature Boy – Nat King Cole

There was a boy
A very strange, enchanted boy
They say he wandered very far
Very far, over land and sea
A little shy and sad of eye
But very wise was he

And then one day
One magic day he passed my way
While we spoke of many things
Fools and Kings
This he said to me:

“The greatest thing you’ll ever learn
Is just to love and be loved in return”

{Instrumental}

“The greatest thing you’ll ever learn
Is just to love and be loved in return”

News of the World

Tác giả: Paulette Jiles

NewsNews of the World kể lại một câu chuyện đơn giản. Ông lính già, Capt. Jefferson Kyle Kidd, làm nghề đọc tin dạo ở Texas những năm 1880. Một hôm, được nhờ mang một cô bé da trắng, từng bị bộ lạc da đỏ Kiowa bắt cóc 4 năm trước, trả về họ hàng ở San Antonio. Chuyến hành trình nguy hiểm đúng kiểu cao bồi viễn tây. Nhưng điều thú vị nhất với mình chính là nghề đọc báo dạo của ông Kidd.

Mỗi khi đến một tỉnh lỵ, ông sẽ ghé mua vài tờ báo đưa tin thế giới và Mỹ, rồi lựa bài. Ông không đọc tin địa phương vì tin này dễ làm “quần chúng” xúc động, cãi vả, rồi quay sang tẩn nhau. Ông đọc tin liên bang, Châu Âu, phát minh khoa học, chuyện khó tin có thật, để người nghe mơ mộng một tí, hồi tưởng một tí và tất nhiên là đủ hài lòng để trả 10 xu tiền nghe đọc. Sau khi mua báo, ông sẽ đến tiệm in nhỏ trong phố để làm tờ quảng cáo cho buổi đọc của mình. Có lần, một bố già sai đệ tử đến dằn mặt, kêu phải đọc tin về những “đóng góp cho cộng đồng” của hắn. Đêm đó ông lặng lẽ trốn vì ông có nguyên tắc không theo phe phái nào.

Ông được rất nhiều người kính trọng. Người đi nghe đọc tin cũng như đi nghe nhà thờ, ăn mặc chỉnh chu. Đa số không quỵt tiền. Nếu lỡ quên thì sẽ có người nhắc, có khi nhắc bằng súng. Trên suốt đường đi, ân nhân của ông chính là người từng đi nghe tin.

Rồi công việc của ông cũng thưa thớt dần vì báo giấy trở nên rẻ hơn, phổ cập hơn và phủ sóng rộng hơn, dân chúng biết chữ nhiều hơn, có học hơn.

Đó là một thời xa xưa, khi thông tin là hàng hiếm và những người có học như Captain Kidd vừa biết chia sẻ thông tin, vừa biết tiêu khiển đám đông với kiến thức. Cảnh ông chuẩn bị cho buổi đọc, long trọng như một ông thầy đứng lớp; phản ứng thích thú của người nghe tỉnh lỵ về những chuyện xảy ra ở một thế giới rộng lớn khiến mình vừa xúc động vừa thấy mủi lòng. Giờ, khi thông tin trong tầm tay, với vài cái click, mình lại làm đủ cách để chặn, lọc và bớt lại thông tin. Chưa hết, khi đọc tin gì mình cũng có thái độ hoài nghi. Thời Fake News!

“If people had true knowledge of the world perhaps they would not take up arms and so perhaps he could be an aggregator of information from distant places and then the world would be a more peaceful place. He had been perfectly serious. That illusion had lasted from age forty-nine to age sixty-five. And then he had come to think that what people needed, at bottom, was not only information but tales of the remote, the mysterious, dressed up as hard information. And he, like a runner, immobile in his smeared printing apron bringing it to them. Then the listeners would for a small space of time drift away into a healing place like curative waters.”

The snow child

the snow childTác giả: Eowyn Ivey

Đọc The Snow Child như đọc một câu chuyện cổ tích, vừa hồi hộp, lo lắng cho tuyến nhân vật chính, vừa thích thú vì sự huyền bí của phong cảnh, và tình tiết.

Alaska, 1920, hoang dã,  khắc nghiệt cho những người đầu tiên đến khai phá, và đặc biệt cho Jack và Mabel. Hai vợ chồng lớn tuổi, không có con, họ dần dần cách xa nhau. Jack oằn lưng với việc đồng áng; Mabel cô đơn, tuyệt vọng. Một đêm, trong trận tuyết đầu mùa, họ cùng đắp một em bé người tuyết. Sáng hôm sau, tượng tuyết biến mất và họ thấy thấp thoáng một cô bé tóc vàng chạy giữa rừng cây.

Cô bé đó có thật không hay chỉ là ảo giác của hai vợ chồng khổ sở? Làm sao giữ được cô bé ấy? Có những lúc mình muốn lật hẳn ra trang cuối để tìm câu trả lời, nhưng rồi cũng lật từng trang.

Cuối cùng, vừa tiếc nuối vừa cảm thấy lâng lâng. Một câu chuyện đẹp.

old town street

 

 

 

When breath becomes air

BreathTác giả: Paul Kalanithi

Tôi đọc When breath becomes air vào những ngày cận lễ Tạ Ơn của Canada. Trong một năm bình lặng, chỉ một biến cố xảy ra với gia đình lớn là dì ruột trải qua điều trị ung thư vú và kết thúc 5 vòng hóa trị, tôi cảm thấy thankful vì mọi người khỏe mạnh. Khỏe mạnh theo nghĩa tương đối nhất, khi so với bệnh ung thư.

Thế nên, khi đọc When breath becomes air, tôi khóc.

Tác giả Paul Kalanithibị chẩn đoán bị ung thư phổi ác tính vào năm 2013, khi 36 tuổi, chuẩn bị cống hiến cho cuộc đời. Paul là một bác sĩ tài giỏi – chief resident của khoa Thần Kinh của Stanford, chỉ vài tháng là hoàn tất chương trình huấn luyện gian khổ nhất trong ngành y. Ông cũng là một nhà khoa học xuất sắc. Nghiên cứu tiến sĩ về đề tài gene therapy của ông đã giành giải danh giá nhất. Và ông còn là một nhà văn. Trước khi vào trường y, ông có hai bằng Văn Chương Anh của Stanford và đã có ý muốn trở thành nhà văn.

Kalanithi2

 

Kalanithi viết cuốn hồi ký này ghi chép lại cuộc đời của ông từ thời trẻ với những sự kiện trong cuộc đời đã đưa ông tới quyết định trở thành bác sĩ phẫu thuật não – một ngành chuyên môn khó và danh giá nhất trong y khoa; cho tới những ngày từ một bác sĩ trở thành một bệnh nhân – những ngày đi tìm định nghĩa về sự sống và cái chết, và định hình lại ý nghĩa sự tồn tại của mình trên cuộc đời này.

Xúc động nhất là khi Lucy quyết định có con. Ông yếu và lạnh vì hóa trị đến mức không thể áp con gái nhỏ vào người. 8 tháng sau, ông mất trong cùng bịnh viện con gái ra đời. Với một người cả đời – ngắn ngủi đi tìm câu trả lời cho hạnh phúc, sự sống, cái chết, chọn ngành y để hiểu về ý nghĩa cuộc đời, và ra đi sớm như vậy, thật là một mất mát.

Tôi cảm thấy thankful vì một sự ngẫu nhiên mà được đọc tác phẩm này.

Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt với tựa đề “Khi Hơi Thở hóa Thinh Không”.

Một số đoạn trích.

Don’t think I ever spent a minute of any day wondering why I did this work, or whether it was worth it. The call to protect life—and not merely life but another’s identity; it is perhaps not too much to say another’s soul—was obvious in its sacredness. Before operating on a patient’s brain, I realized, I must first understand his mind: his identity, his values, what makes his life worth living, and what devastation makes it reasonable to let that life end. The cost of my dedication to succeed was high, and the ineluctable failures brought me nearly unbearable guilt. Those burdens are what make medicine holy and wholly impossible: in taking up another’s cross, one must sometimes get crushed by the weight.

I began to realize that coming in such close contact with my own mortality had changed both nothing and everything. Before my cancer was diagnosed, I knew that someday I would die, but I didn’t know when. After the diagnosis, I knew that someday I would die, but I didn’t know when. But now I knew it acutely. The problem wasn’t really a scientific one. The fact of death is unsettling. Yet there is no other way to live.

I can’t go on. I’ll go on.

Openness to human relationality does not mean revealing grand truths from the apse; it means meeting patients where they are, in the narthex or nave, and bringing them as far as you can.

I would have to learn to live in a different way, seeing death as an imposing itinerant visitor but knowing that even if I’m dying, until I actually die, I am still living…Severe illness wasn’t life-altering, it was life-shattering. It felt less like an epiphany—a piercing burst of light, illuminating What Really Matters—and more like someone had just firebombed the path forward.

“Will having a newborn distract from the time we have together?” she asked. “Don’t you think saying goodbye to your child will make your death more painful?”

“Wouldn’t it be great if it did?” I said. Lucy and I both felt that life wasn’t about avoiding suffering.”

Words have a longevity I do not. I had thought I could leave [Cady] a series of letters–but what would they say? I don’t know what this girl will be like when she is fifteen; I don’t even know if she’ll take to the nickname we’ve given her. There is perhaps only one thing to say to this infant, who is all future, overlapping briefly with me, whose life, barring the improbable, is all but past.

That message is simple: When you come to one of the many moments in life when you must give an account of yourself, provide a ledger of what you have been, and done, and meant to the world, do not, I pray, discount that you filled a dying man’s days with a sated joy, a joy unknown to me in all my prior years, a joy that does not hunger for more and more, but rests, satisfied. In this time, right now, that is an enormous thing.

“What makes life meaningful enough to go on living?”